Nghị định 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế GTGT không đứng yên — chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm đã có 2 lần sửa đổi, bổ sung: Nghị định 359/2025/NĐ-CP (31/12/2025) và Nghị định 144/2026/NĐ-CP (05/5/2026). Nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng theo bản gốc mà chưa cập nhật các điểm sửa đổi này, dễ dẫn tới kê khai sai hoặc bỏ lỡ quyền lợi hoàn thuế. Bài này DR9 tổng hợp các điểm sửa đổi quan trọng nhất — ngoài cơ chế GTGT cho nông, lâm, thủy sản đã trình bày ở bài trước — để doanh nghiệp, hợp tác xã cập nhật đầy đủ.
Nghị định 359/2025/NĐ-CP: bỏ điều kiện “người bán phải nộp thuế” khi hoàn thuế GTGT
Nghị định 359/2025/NĐ-CP được ban hành 31/12/2025, có hiệu lực từ 01/01/2026, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP. Ngoài quy định về nông, lâm, thủy sản (đã trình bày ở bài “Hướng dẫn Luật Thuế GTGT 2026”), điểm sửa đổi đáng chú ý nhất của nghị định này là về điều kiện hoàn thuế GTGT:
- Bãi bỏ yêu cầu người bán phải đã kê khai, nộp thuế GTGT thì người mua mới được hoàn thuế (bỏ khoản 3 Điều 37 và khoản 3 Điều 39 Nghị định 181/2025/NĐ-CP) — đây từng là điều kiện gây khó cho nhiều doanh nghiệp mua hàng hợp pháp, có đầy đủ hóa đơn chứng từ nhưng bị chậm hoàn thuế chỉ vì bên bán chưa hoàn thành nghĩa vụ kê khai của họ.
- Hiệu lực hồi tố cho hồ sơ đang xử lý: hồ sơ hoàn thuế đã nộp trước ngày 01/01/2026 nhưng cơ quan thuế chưa ra quyết định hoàn thì được áp dụng theo quy định mới (không bị yêu cầu chứng minh người bán đã nộp thuế).
Lưu ý: việc bỏ điều kiện “người bán đã nộp thuế” không có nghĩa là hồ sơ hoàn thuế được nới lỏng hoàn toàn — các điều kiện chung khác (chế độ kế toán, tài khoản ngân hàng đăng ký, hóa đơn hợp lệ…) vẫn phải đáp ứng đầy đủ theo quy định gốc của Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
Nghị định 144/2026/NĐ-CP: mở rộng đối tượng không chịu thuế GTGT
Nghị định 144/2026/NĐ-CP ban hành 05/5/2026, có hiệu lực từ 20/6/2026, tiếp tục sửa đổi bổ sung Nghị định 181/2025/NĐ-CP (bản đã qua sửa đổi bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP). Nghị định này bổ sung, mở rộng danh mục hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT tại Điều 4:
- Bổ sung khoản 3a Điều 4 — mở rộng nhóm bảo hiểm không chịu thuế GTGT: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tàu thuyền/trang thiết bị đánh bắt thủy sản, tái bảo hiểm, và bảo hiểm công trình/thiết bị dầu khí do nhà thầu nước ngoài thuê hoạt động tại vùng biển Việt Nam.
- Sửa đổi điểm đ khoản 4 Điều 4 — bổ sung “bán nợ” (gồm bán khoản phải trả, khoản phải thu) và “bán chứng chỉ tiền gửi” vào nhóm dịch vụ tài chính không chịu thuế GTGT.
- Sửa đổi khoản 14 Điều 4 — quy định chi tiết hơn danh mục sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua chế biến thành sản phẩm khác thuộc diện không chịu thuế GTGT, dẫn chiếu Phụ lục I, II kèm cơ chế Bộ Công Thương đề xuất điều chỉnh danh mục khi cần.
Thay đổi cách xác định doanh thu khi khấu trừ thuế (Điều 23)
Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về khấu trừ thuế GTGT theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế/không chịu thuế tại Điều 23:
- Tổng doanh thu dùng để tính tỷ lệ phân bổ khấu trừ được làm rõ bao gồm cả giá trị gia tăng từ hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý và doanh thu theo khoản 2 Điều 40 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
- Doanh thu chịu thuế GTGT dùng để tính tỷ lệ phân bổ được làm rõ bao gồm cả doanh thu hàng hóa, dịch vụ không phải kê khai, tính nộp thuế theo Luật Thuế GTGT 48/2024/QH15 (cùng nhóm cơ chế với quy định về nông, lâm, thủy sản mua bán giữa doanh nghiệp đã trình bày ở bài trước).
Đây là điểm kỹ thuật kế toán quan trọng với doanh nghiệp có cả hoạt động chịu thuế lẫn không chịu thuế (kinh doanh hỗn hợp) — cách xác định đúng tỷ lệ ảnh hưởng trực tiếp tới số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Mua hàng trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng: quy định mới về chứng từ (Điều 26)
Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26, cho phép doanh nghiệp mua hàng hóa theo hình thức trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên được khấu trừ thuế GTGT đầu vào dựa trên hợp đồng mua bán và hóa đơn hợp lệ, trước khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực tế — kèm cơ chế điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ nếu đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng mà doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Quy định này giúp doanh nghiệp không phải chờ đến khi thanh toán xong toàn bộ hợp đồng trả góp mới được khấu trừ thuế, nhưng đi kèm trách nhiệm theo dõi và điều chỉnh lại nếu vi phạm điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng hạn hợp đồng.
Doanh nghiệp cần lưu ý gì
- Doanh nghiệp đang có hồ sơ hoàn thuế GTGT chờ xử lý nên rà soát lại: nếu trước đây bị yêu cầu chứng minh bên bán đã nộp thuế, có thể liên hệ cơ quan thuế đối chiếu lại theo quy định mới của Nghị định 359/2025/NĐ-CP.
- Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ/sức khỏe/nông nghiệp, mua bán nợ, xuất khẩu khoáng sản cần rà soát lại việc kê khai thuế GTGT theo đúng danh mục không chịu thuế mở rộng của Nghị định 144/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 20/6/2026).
- Doanh nghiệp có cả hoạt động chịu thuế lẫn không chịu thuế nên rà soát lại công thức tính tỷ lệ phân bổ khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo Điều 23 sửa đổi.
- Doanh nghiệp có giao dịch mua hàng trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên nên chuẩn bị đầy đủ hợp đồng, hóa đơn ngay từ đầu và có kế hoạch theo dõi thời hạn thanh toán để tránh bị điều chỉnh giảm thuế đã khấu trừ.
DR9 hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật đúng quy định thuế GTGT
Chính sách thuế GTGT đang được điều chỉnh liên tục qua nhiều nghị định sửa đổi — DR9 hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh chuyển đổi và hợp tác xã tại Đồng Tháp và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cập nhật đúng, đủ các điểm sửa đổi này vào quy trình kê khai, tránh rủi ro truy thu hoặc bỏ lỡ quyền lợi hoàn thuế. Tham khảo dịch vụ kê khai thuế trọn gói cho SME của DR9, hoặc đọc thêm bài Hướng dẫn Luật Thuế GTGT 2026 để nắm khung quy định nền tảng.
Liên hệ DR9 để được tư vấn miễn phí
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 359/2025/NĐ-CP ban hành 31/12/2025, có hiệu lực từ 01/01/2026. Nghị định 144/2026/NĐ-CP ban hành 05/5/2026, có hiệu lực từ 20/6/2026. Cả hai đều sửa đổi, bổ sung Nghị định 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế GTGT.
Không. Từ 01/01/2026, Nghị định 359/2025/NĐ-CP đã bãi bỏ yêu cầu người bán phải đã kê khai, nộp thuế GTGT thì người mua mới được hoàn thuế (bỏ khoản 3 Điều 37 và khoản 3 Điều 39 Nghị định 181/2025/NĐ-CP). Các điều kiện chung khác về hoàn thuế vẫn phải đáp ứng đầy đủ.
Nghị định 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a Điều 4, mở rộng nhóm không chịu thuế GTGT gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi và cây trồng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tàu thuyền và trang thiết bị đánh bắt thủy sản, tái bảo hiểm, và bảo hiểm công trình, thiết bị dầu khí do nhà thầu nước ngoài thuê hoạt động tại vùng biển Việt Nam.
Có, theo điểm g khoản 2 Điều 26 (bổ sung bởi Nghị định 144/2026/NĐ-CP), doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào dựa trên hợp đồng mua bán và hóa đơn hợp lệ trước khi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực tế. Nếu đến hạn thanh toán theo hợp đồng mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm số thuế đã khấu trừ.
Bài viết được biên soạn bởi Hiếu — Kế toán trưởng tại DR9, 20 năm kinh nghiệm ngành thuế – kế toán, trong đó 10 năm phục vụ trực tiếp doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã tại Đồng Tháp. Nội dung căn cứ Nghị định 359/2025/NĐ-CP và Nghị định 144/2026/NĐ-CP, cập nhật ngày 04/9/2026.

